Th 2, 12/08/2019 | 15:20 CH

Xem với cỡ chữ Đọc bài viết Tương phản

Lịch sử hình thành và phát triển của Cục Sở hữu trí tuệ qua các năm

Lịch sử hình thành và phát triển của Cục Sở hữu trí tuệ qua các năm

Cách đây hơn 36 năm, ngày 29 tháng 7 năm 1982, Cục Sáng chế, tiền thân của Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay, được thành lập. Chặng đường 36 năm xây dựng và phát triển đã đánh dấu những mốc son lịch sử quan trọng của Cục Sở hữu trí tuệ. Từ một đơn vị mới thành lập chỉ với 27 cán bộ, đến nay, Cục Sở hữu trí tuệ đã trở thành một đơn vị lớn mạnh với 17 đơn vị trực thuộc, 333 cán bộ công chức và người lao động làm việc tại Hà Nội và 2 Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Công tác quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ cũng như các hoạt động sự nghiệp về sở hữu công nghiệp được Cục triển khai toàn diện, hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của khoa học, công nghệ nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung trong thời kỳ hội nhập. 
1. Giai đoạn 1982-1992
Cục Sáng chế được thành lập theo Nghị định số 125/HĐBT ngày 29 tháng 7 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở tổ chức của Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.
Những ngày đầu thành lập với bao khó khăn về nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất, kỹ thuật nhưng cán bộ Cục Sáng chế đã nêu cao tinh thần vượt khó, chủ động, sáng tạo, khẩn trương thực hiện các biện pháp kiện toàn về tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất, kết hợp với tìm tòi, nghiên cứu, tham khảo mô hình và kinh nghiệm hoạt động của các nước trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, một lĩnh vực còn vô cùng mới mẻ đối với đất nước ta thời kỳ đó.
Kết quả là, trong giai đoạn 1982-1992, Cục Sáng chế đã thực hiện được nhiều nội dung công việc quan trọng, đó là:
Thứ nhất, chủ trì soạn thảo, trình Chính phủ và các cấp có thẩm quyền ban hành hàng loạt văn bản quan trọng như:
+ Nghị định số 197/HĐBT về Điều lệ Nhãn hiệu hàng hóa, Nghị định số 85-HĐBT ngày 13/5/1988 về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, Nghị định số 200-HĐBT ngày 28/12/1988 về bảo hộ giải pháp hữu ích, Nghị định số 201-HĐBT về li-xăng sở hữu công nghiệp;
+ Thông tư liên Bộ số 892/TT/LB ngày 4/8/1982 hướng dẫn thi hành những vấn đề về tài chính và trả thưởng quy định trong điều lệ sáng kiến, Thông tư liên Bộ số 1608/NN-UBKHKTNN ngày 23/12/1982 về đăng ký và bảo hộ sáng chế cho giống cây trồng và giống gia súc, gia cầm mới, Thông tư số 1258/SC ngày 18/10/1983 hướng dẫn thi hành điều lệ nhãn hiệu hàng hóa, Thông tư liên Bộ số 173/SC ngày 15/2/1984 về hướng dẫn thi hành việc khen thưởng cho sáng kiến, sáng chế làm thay đổi thiết bị xây dựng cơ bản.
Thứ hai, thực hiện tốt công tác tiếp nhận và xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp. Kết quả là, ngày 28/6/1984, 9 Bằng độc quyền sáng chế đầu tiên được cấp và công bố rộng rãi. Đến ngày 26/8/1991 đã đánh dấu sự kiện Bằng độc quyền sáng chế số 100 được cấp cho “Nguyên liệu để sản xuất vật liệu cách nhiệt diatomit và phương pháp sản xuất vật liệu này”. Đối với đăng ký nhãn hiệu, ngày 29/6/1984, 12 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đầu tiên được cấp. Giấy chứng nhận đăng ký Kiểu dáng công nghiệp và Bằng độc quyền giải pháp hữu ích đầu tiên được cấp vào năm 1989. Thông qua Văn phòng quốc tế của Thỏa ước Madrid, chỉ tính riêng năm 1983 đã chấp nhận cho đăng ký vào Việt Nam 2.972 nhãn hiệu quốc tế. 
Thứ ba, công tác thu thập và lưu trữ thông tin, tư liệu được triển khai 1 cách khoa học. Kho tư liệu sáng chế ban đầu hình thành gồm hơn 500.000 bản giấy và hàng nghìn bản vi phim, phục vụ công chúng 2.000 bản mô tả sáng chế. Bắt đầu tiến hành xây dựng bộ phiếu tra cứu theo phân loại sáng chế quốc tế và thử nghiệm tự động hóa tìm tin qua hệ thống máy tính. Với sự nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ Cục Sáng chế, đến năm 1989, kho thông tin tư liệu sáng chế đã đạt số lượng 11 triệu bản mô tả sáng chế của 18 nước và 2 tổ chức quốc tế, hàng chục nghìn công báo sáng chế của các nước. Hàng triệu thư mục sáng chế của 52 nước đã được xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng. Trung tâm Thông tin, tư liệu sáng chế đã được trang bị các phương tiện hiện đại để phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin như: máy vi tính, máy đọc vi phim, đầu đọc CD-ROM, hệ thống sao chụp và in ấn.
Thứ tư, tuy mới thành lập nhưng Cục Sáng chế rất coi trọng việc mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế. Tháng 12 năm 1985, Cục Sáng chế đã đăng cai tổ chức Kỳ họp lần thứ 26 của Hội nghị Lãnh đạo cơ quan sáng chế các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế SEV tại Hà Nội với sự tham gia đầy đủ của 10 đoàn đại biểu của các nước thành viên SEV. Hội nghị đã thông qua nghị quyết chung, trong đó có việc xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động và chương trình phát triển hệ thống thông tin sáng chế quốc tế (MTPI) cho đến năm 1995. Năm 1986, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã đầu tư cho Việt Nam dự án “Phát triển hoạt động sở hữu công nghiệp ở Việt Nam và xây dựng Trung tâm tư liệu sáng chế quốc gia” trị giá 448.000 USD, qua đó đã góp phần tạo ra những cơ sở vật chất ban đầu và nâng cao năng lực hoạt động của Cục Sáng chế.
Thứ năm, Cục Sáng chế đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức cho tuổi trẻ cả nước tham gia các cuộc triển lãm “Tuổi trẻ sáng tạo” của thanh niên các nước trên thế giới, tổ chức các Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc,v.v.., góp phần xây dựng và phát triển phong trào sáng kiến sâu rộng trong cả nước.
Ngày 16/4/1987, Lễ Khởi công công trình xây dựng trụ sở mới của Cục Sáng chế được tiến hành. Sau hơn 1 năm khẩn trương thực hiện, ngày 22/11/1988, Trụ sở mới của Cục đã được khánh thành, khắc phục được tình trạng khó khăn về chỗ làm việc, tạo ra một diện mạo mới cho cơ quan Cục Sáng chế.
Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn này phải kể đến là sự ra đời của Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 11/2/1989, đánh dấu sự thay đổi căn bản của hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở nước ta. Theo đó, Việt Nam chính thức bãi bỏ hình thức bảo hộ sáng chế dưới dạng cấp Bằng tác giả sáng chế. Lần đầu tiên, cụm từ “sở hữu công nghiệp” được chính thức sử dụng trong văn bản pháp luật. Sáng chế và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác được coi là tài sản và là đối tượng của quyền sở hữu, tạo điều kiện khuyến khích sáng tạo và cân bằng lợi ích của chủ thể quyền với lợi ích xã hội. Pháp lệnh còn quy định bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hóa nhằm phát huy thế mạnh của các sản phẩm độc đáo và nổi tiếng từ lâu đời của Việt Nam. Sau khi Pháp lệnh ra đời, số lượng đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và số lượng Văn bằng được cấp ra tăng trưởng liên tục trong các năm tiếp theo.
2. Giai đoạn 1993-2002
Ngày 22/5/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 22-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, theo đó Cục Sáng chế chính thức được đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp.
Ngày 28/10/1995, Bộ Luật Dân sự đã được Quốc hội khóa IX thông qua, với phần thứ VI quy định về quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có Chương 2 về quyền sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ gồm 26 điều khoản quy định những nguyên tắc cơ bản nhằm xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất và đầy đủ nhất để triển khai toàn diện hoạt động sở hữu công nghiệp và tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử bảo hộ quyền hữu công nghiệp ở Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử nước CHXHCN Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước thừa nhận như một loại quyền dân sự, khẳng định những nguyên tắc dân sự cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ và được cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội quy định. Hoạt động sở hữu công nghiệp thời kỳ này chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn từng bước hội nhập với thế giới và khu vực.
Để triển khai thực hiện Bộ luật Dân sự năm 1995, Cục Sở hữu công nghiệp đã nhanh chóng nghiên cứu, soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành để trình các cấp có thẩm quyền ban hành như: 
+ Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp, Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp, Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Nghị định số 63/CP, Nghị định số 42/2003/NĐ-CP ngày 05/5/2003 của Chính phủ quy định về bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
+ Thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 63/CP, Thông tư số 23/TCT ngày 09/5/1997 của Bộ Tài chính  hướng dẫn thu nộp và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp, Thông tư số 29/2003/TT-BKHCN ngày 05/11/2003 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp, Thông tư số 30/2003/TT-BKHCN ngày 05/11/2003 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế và giải pháp hữu ích.
Giai đoạn 1993-2002 cũng đánh dấu những dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ, đó là:
- Năm 1993, Chính phủ phê chuẩn Hiệp ước hợp tác về sáng chế (PCT) và Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước này từ ngày 10/3/1993;
- Tháng 4 năm 1994, ký kết bản ghi nhớ hợp tác song phương trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp giữa Việt Nam và Thái Lan và tháng 2 năm 1995 ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Sở hữu công nghiệp Việt Nam và Cục Sở hữu trí tuệ Thái Lan;
- Tháng 9 năm 1995, ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Australia. Trước đó, vào tháng 7 năm 1994, Tổng giám đốc cơ quan sở hữu công nghiệp Australia (AIPO) đã thăm chính thức Cục Sở hữu công nghiệp;
- Ngày 15/12/1995, tại cuộc họp thượng đỉnh lần thứ 5 của các nước ASEAN đã ký kết Hiệp định khung về hợp tác sở hữu trí tuệ giữa các nước ASEAN. Cục Sở hữu công nghiệp đã tham dự cuộc họp của Nhóm công tác về sở hữu trí tuệ của ASEAN để dự thảo Hiệp định khung này;
- Tháng 7 năm 1999, ký kết hiệp định về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thụy Sỹ, trong đó, Chính phủ Thụy Sỹ đã tài trợ cho Việt Nam thực hiện “Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thụy Sỹ về sở hữu trí tuệ (gọi tắt là chương trình SPC);
- Tháng 12 năm 1999, ký kết Thỏa thuận triển khai Dự án Hiện đại hóa quản trị sở hữu công nghiệp (MOIPA) do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) quản lý. Dự án đã góp phần quan trọng trong công cuộc cải tiến công nghệ xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, tự động hóa các thao tác nghiệp vụ liên quan đến tiến trình xử lý đơn của Cục Sở hữu công nghiệp;
- Năm 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết, trong đó có 1 Chương về sở hữu trí tuệ.
Công tác xác lập quyền sở hữu công nghiệp trong giai đoạn này cũng ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc. Nếu như năm 1992 có 83 đơn đăng ký sáng chế được nộp và số Bằng độc quyền sáng chế được cấp là 35, thì năm 2002 có tới 1.211 đơn sáng chế được nộp và 743 Bằng độc quyền sáng chế được cấp. Tương tự đối với nhãn hiệu, năm 1992 có 4.617 đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp và 3.308 Giấy chứng nhận nhãn hiệu được cấp thì năm 2002 con số này đã là 8.818 đơn nhãn hiệu được nộp và 5.200 Giấy chứng nhận nhãn hiệu được cấp.
Những thành tựu đạt được của Cục Sở hữu công nghiệp giai đoạn 1993-2002 từng bước khẳng định vai trò quan trọng của lĩnh vực này đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
3. Giai đoạn 2003 đến nay
Ngày 19 tháng 5 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2003/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học và Công nghệ, theo đó Cục Sở hữu công nghiệp được đổi tên thành Cục Sở hữu trí tuệ với chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy được mở rộng hơn so với trước.
Cục Sở hữu trí tuệ vừa đảm nhiệm chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, vừa trực tiếp quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động sự nghiệp về sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật. Từ 12 đơn vị và bộ phận trước đây, đến nay, bộ máy tổ chức của Cục Sở hữu trí tuệ bao gồm 17 đơn vị, trong đó có 7 Phòng, 8 Trung tâm và 2 Văn phòng đại diện.
Sự ra đời của Văn phòng Đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 và Văn phòng Đại diện tại thành phố Đà Nẵng năm 2005 đánh dấu sự vươn mình mạnh mẽ của Cục Sở hữu trí tuệ, khẳng định vai trò, vị thế của Cục trong sự phát triển của khoa học công nghệ nói riêng và của đất nước nói chung. Cùng với sự ra đời của 2 Văn phòng đại diện, lần đầu tiên tại Việt Nam, công việc tiếp nhận đơn sở hữu công nghiệp được tiến hành tại 3 địa điểm đặt tại 3 miền của đất nước, được ghi nhận và cấp số đơn đồng thời, thống nhất trong phạm vi toàn quốc thông qua mạng trực tuyến.
Trước những cơ hội và thách thức to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ đã trở thành một trong những mối quan tâm đặc biệt, là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ mới. 
Về hệ thống pháp luật, yêu cầu đặt ra trong thời kỳ này là phải đổi mới căn bản và toàn diện toàn bộ cấu trúc của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đất nước và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.
Đáp ứng yêu cầu đó, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng văn bản luật chuyên ngành đầu tiên trong lĩnh vực này. Kết quả là, ngày 29/11/2005, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm 6 phần, 18 Chương, 222 Điều, có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2006. Đây là một sự kiện quan trọng, đánh dấu một giai đoạn mới của quá trình phát triển hoạt động sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Cùng với Bộ Luật Dân sự năm 2005, hai văn bản này đã tạo thành một hệ thống các quy định hoàn chỉnh và thống nhất về quyền sở hữu trí tuệ, thay thế cho các quy định trước đây. Sự kiện này có ý nghĩa to lớn đối với quá trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007 cũng như quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, góp phần thúc đẩy hơn nữa các hoạt động sáng tạo và phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Một loạt các văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã được Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì, phối hợp xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ký ban hành như: 
+ Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp;
+ Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ;
+ Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN ngày 30/6/2016 của Bộ Khoa học và Công nghệ  sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30 tháng 7 năm 2010, Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22 tháng 7 năm 2011 và Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02 năm 2013;
+ Thông tư số 263/2016/TT-BTC ngày 14/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp.
Công tác hợp tác quốc tế trong giai đoạn từ năm 2003 đến nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận:
- Trong tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án đàm phán và tham gia đàm phán về sở hữu trí tuệ, góp phần kết thúc 12 năm đàm phán gia nhập, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO kể từ ngày 11/01/2007;
- Hưởng ứng năm APEC 2006, Cục Sở hữu trí tuệ lần đầu tiên đăng cai tổ chức Cuộc họp lần thứ 22 nhóm chuyên gia APEC về sở hữu trí tuệ và Hội thảo APEC về sở hữu trí tuệ dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, với sự tham gia của đại diện 21 nền kinh tế thành viên APEC vào tháng 2 năm 2006 tại Hà Nội. Các sự kiện được tổ chức thành công, để lại nhiều ấn tượng tốt đối với bạn bè quốc tế, góp phần quan trọng vào sự thành công chung của năm APEC Việt Nam 2006;
- Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN về sở hữu trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ đã đăng cai và tổ chức thành công nhiều sự kiện quan trọng như: Cuộc họp lần thứ 25 Nhóm công tác về Sở hữu trí tuệ ASEAN (AWIGIPC) tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 2 năm 2006, Cuộc họp lần thứ 25 Nhóm công tác về Sở hữu trí tuệ ASEAN (AWIGIPC) và các sự kiện bên lề tại thành phố Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh tháng 7/2017;
- Đối với Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TTP), dưới sự chủ trì của Đoàn đàm phán chính phủ, Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp tham gia đàm phán, rà soát pháp lý và nội dung văn kiện Chương sở hữu trí tuệ cùng các thỏa thuận song phương, tiến tới ký kết Hiệp định ngày 04/02/2016;
- Một loạt các Hiệp định, Dự án hợp tác song phương và đa phương đã được Cục tích cực tham gia đàm phán, ký kết và xúc tiến triển khai: Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với Australia và Newzealand, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Hải quan (VCUFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Khối thương mại tự do Trung Âu (EFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Dự án hợp tác EC-Việt Nam về sở hữu trí tuệ (ECAP III) do Liên minh châu Âu tài trợ, Dự án “Ứng dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam (UTIPINFO)” do Chính phủ Nhật Bản tài trợ,v.v..
Trong giai đoạn này, Cục Sở hữu trí tuệ cũng duy trì tốt mối quan hệ hợp tác với Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tích cực tham gia các hoạt động của Tổ chức như: các cuộc họp Đại Hội đồng, các hội thảo chuyên đề về sở hữu trí tuệ. Cục đã 2 lần được vinh dự tiếp đón Tổng Giám đốc Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) sang thăm Việt Nam vào tháng 1 năm 2010 và tháng 3 năm 2017, qua đó thắt chặt mối quan hệ hợp tác với tổ chức hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, khẳng định được vai trò, vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Công tác xác lập quyền trong giai đoạn này đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Số lượng đơn đăng ký xác lập quyền liên tục gia tăng. Năm 2003, số lượng đơn đăng ký sáng chế là 774 đơn, số lượng đơn đăng ký giải pháp hữu ích là 127 đơn, số lượng đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp là 680 đơn, số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu là 12.135 đơn. Đến năm 2016, con số này đã là 5.228 đơn sáng chế, 478 đơn giải pháp hữu ích, 2.868 đơn kiểu dáng công nghiệp và 42.848 đơn nhãn hiệu, gấp từ 3-8 lần so với năm 2003. Chỉ tính riêng năm 2016, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận tổng số 104.275 đơn các loại. Với khối lượng công việc gia tăng nhanh chóng, mặc dù nguồn nhân lực và điều kiện vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng còn hạn chế, nhưng toàn thể cán bộ công chức và người lao động của Cục đã nỗ lực cố gắng hoàn thành tốt công việc được giao. Số lượng đơn được xử lý cũng liên tục tăng. Năm 2003, số Bằng độc quyền sáng chế được cấp là 774, giải pháp hữu ích là 55, kiểu dáng công nghiệp là 680, Giấy chứng nhận nhãn hiệu là 12.135. Năm 2016 con số này là 1.893 đối với sáng chế, 177 đối với giải pháp hữu ích, 1.966 đối với kiểu dáng công nghiệp và 20.898 đối với nhãn hiệu.
Chất lượng xử lý đơn được Cục chú trọng và nâng cao thông qua một loạt giải pháp: ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình xử lý đơn thông qua Hệ thống quản trị đơn sở hữu công nghiệp (IPAS); ban hành các Quy chế thẩm định đơn nhằm thống nhất và minh bạch hóa quy trình xử lý đơn; áp dụng Hệ thống Tiêu chuẩn chất lượng ISO trong công tác xử lý đơn, v.v..
Bên cạnh công tác xác lập quyền, các công tác khác cũng được Cục triển khai toàn diện và hiệu quả như: tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về sở hữu trí tuệ; hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ; triển khai Hệ thống nộp đơn trực tuyến, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính và từng bước minh bạch hóa công tác xử lý đơn; đẩy mạnh công tác thông tin sở hữu công nghiệp thông qua Thư viện số về sở hữu công nghiệp, Thư viện số về Bằng sáng chế của Việt Nam, phát hành Công báo sở hữu công nghiệp điện tử, v.v..
Sự nỗ lực cố gắng và những thành tích đạt được của Cục Sở hữu trí tuệ đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Trong những năm qua, Cục đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng Nhì năm 2007, Huân chương lao động hạng Nhất năm 2012, cùng nhiều Bằng khen và các danh hiệu cao quý khác.
Có thể nói, cùng với sự phát triển của Cục Sở hữu trí tuệ, lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước, thực sự là động lực cho đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đạt được những thành tích to lớn đó là nhờ vào sự nỗ lực, cố gắng cống hiến hết mình của các thế hệ lãnh đạo, cán bộ công chức và người lao động đã và đang công tác tại Cục trong suốt 36 năm qua. Bên cạnh đó, Cục cũng luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của Chính phủ, sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Khoa học và Công nghệ (trước đây là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước) và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước để hoàn thành được những sứ mệnh lịch sử của mình./.


Tin mới nhất

Th 6, 20/11/2009 | 10:27 SA

Xem với cỡ chữ Đọc bài viết Tương phản

Quá trình hình thành và phát triển của Cục Sở hữu trí tuệ qua các năm

CHỨC NĂNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

I. Quá trình hình thành và phát triển

1. Trước năm 1982:
Từng bước hình thành và phát triển hoạt động sáng kiến – thành lập Phòng Sáng chế phát minh, tổ chức tiền thân của Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay.
Năm 1959: thành lập ủy ban Khoa học Nhà nước trong đó có Phòng Sáng kiến cải tiến kỹ thuật; năm 1973: được đổi thành Phòng Sáng chế phát minh.
Cục Sáng chế
Ngày 29/7/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 125/HĐBT về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước trong đó có Cục Sáng chế là một đơn vị trực thuộc. Và, Ngày 29/7 đã chính thức trở thành ngày thành lập Cục Sáng chế, sau đó là Cục Sở hữu công nghiệp và Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay.
Theo Điều lệ tổ chức và Hoạt động thì Cục Sáng chế được xây dựng trên cơ sở Phòng Sáng chế phát minh, có trách nhiệm giúp Chủ nhiệm ủy ban thực hiện chức năng thống nhất quản lý hoạt động sáng kiến, sáng chế và công tác sở hữu công nghiệp trong cả nước, bảo hộ pháp lý sáng chế và các đốitượng sở hữu công nghiệp; Cục có 05 phòng chuyên môn, nghiệp vụ. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu, Cục chưa thành lập các phòng mà vẫn tiếp tục duy trì các tổ chuyên môn.
Khi mới thành lập, Cục có 27 cán bộ, được tổ chức thành 02 tổ chuyên môn: Tổ Quản lý và Tổ Thông tin.
Cục Sở hữu công nghiệp
Ngày 22/5/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 22-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Theo đó, Cục Sáng chế được đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp.
Cục đã tổ chức lại các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, thống nhất các thủ tục xác lập quyền theo nguyên tắc một đầu mối; củng cố các Phòng chuyên môn, nghiệp vụ.
Về cơ cấu tổ chức, Cục có 7 phòng, 01 trung tâm, 02 bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ và 01 văn phòng quản lý dự án.
Cục Sở hữu trí tuệ
Ngày 19/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học và Công nghệ. Theo đó, Cục Sở hữu công nghiệp được đổi tên thành Cục Sở hữu trí tuệ.
Ngày 25/6/2004, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ký Quyết định số 14/2004/QĐ-BKHCN ban hành Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Cục Sở hữu trí.
II. Chức năng, nhiệm vụ Cục sở hữu trí tuệ
Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước và đảm bảo các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành về sở hữu trí tuệ (SHTT).
1. Về nhiệm vụ:
Cục Sở hữu trí tuệ có 19 nhiệm vụ chính. Tuy nhiên có thể khái quát thành 5 nhiệm vụ trọng tâm cơ bản sau:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, biện pháp đẩy mạnh hoạt động và phát triển hệ thống SHTT trong phạm vi cả nước;
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và bảo vệ quyền SHTT tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân;
- Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về SHTT;
- Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về SHTT cho các cơ quan quản lý SHTT thuộc các Bộ, ngành và địa phương trong cả nước;

- Thực hiện chức năng bảo đảm các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT; đào tạo, bồi dương chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học về SHTT; hỗ trợ và tư vấn về thủ tục xác lập, quản lý, sử dụng và chuyển giao, chuyển nhượng giá trị quyền SHTT; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin sở hữu công nghiệp.

2. Về cơ cấu tổ chức
Cục Sở hữu trí tuệ có 19 đơn vị trực thuộc, trong đó có 17 đơn vị làm việc tại Cơ quan Cục (384-386, Nguyễn Trãi, Hà Nội) và 2 Văn phòng Đại diện của Cục tạithành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng; Cục được phân thành 2 khối: khối quản lý nhà nước gồm các đơn vị: Văn phòng, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Pháp chế và Chính sách, Phòng Hợp tác quốc tế, Phòng Thực thi và Giải quyết khiếu nại, Phòng Công nghệ thông tin, Phòng Đăng ký, Văn phòng Đại diện của Cục tại thành phố Hồ Chí Minh, Văn phòng Đại diện của Cục tại thành phố Đà Nẵng và khối sự nghiệp phục vụ công tác quản lý nhà nước gồm các đơn vị: Phòng Sáng chế 1, Phòng Sáng chế 2, Phòng Sáng chế 3, Phòng Kiểu dáng công nghiệp, Phòng Nhãn hiệu hàng hóa số 1, Phòng Nhãn hiệu hàng hóa số 2, Phòng Chỉ dẫn địa lý, Trung tâm Thông tin, Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo.
3. Về biên chế
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, Cục Sở hữu trí tuệ có 281 công chức, viên chức. Trong đó, số công chức là 100 người, viên chức hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là 157 người, và hợp đồng làm việc có thời hạn là 24 người. Hầu hết công chức, viên chức có trình độ đại học trở lên (245 ng-ời chiếm tỷ lệ 87,2%), khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoạingữ đáp ứng yêu cầu công việc; nhiều công chức, viên chức có thêm văn bằng thứ 2 hoặc thứ 3; 10 ngườicó học vị tiến sĩ (chiếm tỷ lệ 3,6%); 26 người có học vị thạc sỹ (chiếm tỷ lệ 9,25%).
III. Hoạt động của Cục Sở hữu trí tuệ
1. Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về SHTT, tạo môi trường pháp lý đầy đủ và minh bạch cho hoạt động SHTT nhằm phát triển kinh tế của đất nước và hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Cục Sở hữu trí tuệ.
Cục đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan soạn thảo và trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành 03 bộ Luật, 01 Pháp lệnh, 16 Nghị định hoặc Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, 19 Thông tư hoặc các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, ngành ban hành. Đặc biệt, trong năm 2005, Cục Sở hữu trí tuệ đN chủ trì xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ – một đạo luật chuyên ngành đầu tiên về SHTT của Việt Nam với phạm vi điều chỉnh rộng lớn và toàn diện, đã được Quốc hội chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Có thể nói rằng, hệ thống pháp luật về SHTT của Việt Nam từ khi Luật Sở hữu trí tuệ và một loạt các văn bản dưới luật được ban hành, đã tạo ra một nền tảng pháp lý tương đốihoàn chỉnh, đầy đủ và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động SHTT hiện nay.
Cục đã xây dựng một loạt các Đề án, Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thúc đẩy các hoạt động SHTT trong phạm vi cả nước: Đề án "Đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ quyền SHTT"; Đề án "Khảo sát, đánh giá thực tiễn hoạt động sáng kiến ở Việt Nam"; Đề án "Nâng cao hiệu quả thực thiquyền SHTT"; "Chương trình hỗ trợ phát triển tàisản trí tuệ của doanh nghiệp" ...
Trong tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Cục là cơ quan chủ trì phần nội dung về SHTT, tham gia đàm phán để ký kết các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và các nước; trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO; cập nhật, rà soát, sửa đổi dự thảo báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (phần nội dung về SHTT) góp phần kết thúc đàm phán để Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/01/2007.
2. Thực hiện quản lý nhà nước về xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Những năm gần đây, số đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ liên tục gia tăng (khoảng 20-25%/năm). Để bảo đảm các quy định của pháp luật về thời hạn xử lý đơn, Cục đã thực hiện một loạt các giải pháp đồng bộ để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, bao gồm: Cải cách các thủ tục hành chính; nâng cấp trang, thiết bị, áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công việc; bổ sung lực lượng cán bộ, công chức; áp dụng định mức lao động, trả lương theo kết quả công việc; tổ chức làm thêm vào các ngày thứ Bảy hàng tuần … Nhờ đó, đã đẩy nhanh tốc độ xử lý đơn.
Kết quả thực hiện thủ tục xác lập quyền SHCN các năm 2005 – 2008
Công việc Kết quả
2005 2006 2007 2008
Số đơn tiếp nhận 25.440 30.944 35.693 40.356
So sánh (tỷ lệ %) 100 121,6 140,3 158,6
Số Văn bằng đã cấp 14.737 14.473 20.961 29.001
So sánh (tỷ lệ %) 100 98,2 142,2 196,8
Lao động 185 241 257 281
So sánh (tỷ lệ %) 185 241 257 281
Thu Ngân sách (tỷ đồng) 54 62 76 88,4
So sánh (tỷ lệ %) 100 114,8 140,7 163,7
Kết quả trên đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thực tiễn, góp phần tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ và tăng trưởng kinh tế của đất nước.
3. Thực hiện hợp tác quốc tế về SHTT
Cục đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về SHTT, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện về SHTT trong khuôn khổ APEC, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế; đã triển khai các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ APEC, ASEAN, ASEM… Quan hệ hợp tác song phương tốt đẹp với nhiều đối tác nhà Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu Âu (EPO), Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu Âu (OHIM), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nhật, Liên bang Nga... Các dự án hợp tác với nước ngoài (Dự án MOIPA, UTIPINFO do Nhật Bản tài trợ, Dự án ECAP – I, ECAP – II do EU tài trợ, Chương trình SPC do Thuỵ Sĩ tàitrợ) tiếp tục được triển khai có hiệu quả.
4. Công tác bảo đảm các hoạt động sự nghiệp về SHTT
Tổ chức đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về SHTT, trong đó chú trọng công tác đào tạo ngắn hạn và dài hạn về SHTT nhằm tạo nguồn nhân lực có trình độ cơ bản và chuyên sâu bổ sung cho hệ thống, và nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý, thực thi quyền SHTT, cán bộ nghiên cứu và triển khai… thuộc các ngành, địa phương trong cả nước.
Công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp được quan tâm và bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Cùng với việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp, các hoạt động hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý) được tăng cường.
Cục đã xây dựng và từng nước hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin sở hữu công nghiệp; duy trì trao đổi thông tin chuyên ngành với 27 quốc gia và Tổ chức quốc tế, xây dựng kho tư liệu sở hữu công nghiệp với khoảng 25 triệu sáng chế, 1,5 triệu kiểu dáng công nghiệp và gần 3 triệu nhãn hiệu; phổ biến và tổ chức khai thác thông tin sở hữu công nghiệp phục vụ nghiên cứu và triển khai.
Đã tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng ngàn vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về sở hữu công nghiệp.
đánh giá chung
Với sự quan tâm của Chính phủ, sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Khoa học và Công nghệ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương và sự cố gắng của tập thể Lãnh đạo, cán bộ, công chức Cục Sở hữu trí tuệ, công tác quản lý nhà nước và các hoạt động về SHTT tiếp tục đạt được kết quả khả quan.
Hệ thống pháp luật về SHTT tiếp tục được hoàn thiện. Công tác tổ chức thi hành các quy định pháp luật và thực hiện các thủ tục hành chính về sở hữu công nghiệp có nhiều cải tiến theo hướng thuận tiện, đơn giản hoá. Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT cũng như phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống trong những năm qua có nhiều tiến bộ; nhận thức của xã hội nói chung và của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nói riêng được nâng cao một bước. Trình độ chuyên môn của những ngườilàm công tác SHTT tại các doanh nghiệp được cảithiện đáng kể. Hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục được duy trì và phát triển, nhờ đó nhận được sự hỗ trợ hết sức thiết thực, kịp thời. Tình hình xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp trong những năm gần đây có chuyển biến tích cực.
Đội ngũ cán bộ, công chức của Cục tiếp tục được bổ sung cả về số lượng và chất lượng; cơ sở vật chất từng bước được tăng cường và hiện đại đáp ứng ngày càng tốt hơn các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ.
Một số hạn chế trong công tác quản lý nhà nước và các hoạt động SHTT:

- Việc nâng cao hiểu biết và nhận thức về SHTT cho các doanh nghiệp và công chúng còn hạn chế;

- Tình hình xâm phạm, vi phạm về SHTT chưa có dấu hiệu bị kiềm chế mà vẫn diễn biến phức tạp, phổ biến;

- Tốc độ xử lý đơn tăng nhanh, song lương đơn tồn đọng vẫn còn đáng kể;

- Cơ sở vật chất kỹ thuật không đồng bộ, lạc hậu;

- Đội ngũ cán bộ, công chức đã được quan tâm bổ sung song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, kể cả về số lượng và chất lượng; cơ chế quản lý tài chính chứa đựng nhiều bất cập, không khuyến khích được cán bộ, công chức, viên chức.

IV. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cục sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và công cuộc cnh, hđh đất nước

Để nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền SHTT, song song vớiviệc phát huy kết quả đã đạt được, Cục đang tập trung khắc phục triệt để các hạn chế, thiếu sót đã nêu ở phần trên, cụ thể là:
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại; có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ;
Tăng cường đầu tư, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý và các hoạt động về SHTT.
Để giải quyết tốt nhất các yêu cầu trên, Cục Sở hữu trí tuệ đang trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Cục được thực hiện cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu, giao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm của thủ trương đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ./.
  Trần Văn Nghiệp
Phòng Tổ chức cán bộ